Cơ chế nào gây ra tình trạng choáng?

Choáng là tình trạng suy giảm nặng sự tưới máu mô đưa đến rối loạn chức năng và tổn thương tế bào. Cùng tìm hiểu về các loại choáng và nguyên nhân gây ra chúng trong bài viết sau.

Cơ chế nào gây ra tình trạng choáng?

Cơ chế nào gây ra tình trạng choáng?

Định nghĩa

Bác sĩ tư vấn: Choáng là tình trạng suy giảm nặng sự tưới máu mô đưa đến rối loạn chức năng và tổn thương tế bào. Rối loạn chức năng màng tế bào là giai đoạn cuối chung cho những dạng khác nhau của choáng.

Nhận ra và điều trị sớm là cần thiết để ngăn ngừa tổn thương cơ quan không hồi phục

Phân loại choáng

  1. Choáng giảm thể tích :

–        Mất máu : Chấn thương, xuất huyết tiêu hoá trên và dưới, phình vách thất, hoặc phình động mạch chủ vỡ, …

–        Mất dịch : Nôn ói, tiêu chảy, bỏng, sử dụng quá liều lợi tiểu, nhiễm ceton – acid

–        Mất vào khoang thứ ba : Xơ gan, viêm tuy cấp, tắc ruột.

  1. Choáng tim :

–        Cơ tim : Nhồi máu cơ tim cấp, bệnh cơ tim giản nở.

–        Cơ học : Hỡ van hai lá, thông liên thất, hẹp chủ nặng.

–        Rối loạn ti

  1. Choáng tắc nghẽn ngoài tim :

–        Chèn ép tim

–        Thuyên tắc phổi

–        Tràn khí màng phổi áp lực

  1. Choáng phân bố (giảm nặng trương lực mạch máu toàn thân)

–        Choáng nhiễm trùng

–        Choáng độc tố

–        Choáng phản vệ

–        Choáng thần kinh (sau tổn thương hệ thần kinh trung ương hoặc tuỷ sống)

–        Choáng do bệnh lý nội tiết (cơn Addison, hôn mê do suy giáp)

Cơ chế nào gây ra choáng?

  1. Phản xạ thượng thận – giao cảm

–        Đáp ứng với tình trạng hạ huyết áp, có sự tăng phản xạ trong hoạt động của hệ thần kinh giao cảm và phóng thích Catecholamin từ tuỷ thượng thận.

–        Kết quả gây co mạch, tăng co bóp cơ tim và tăng nhịp tim giúp hồi phục huyết áp và cung lượng tim.

  1. Đáp ứng thần kinh – nội tiết

–        Sự hoạt hoá hệ thống Renin – Angiotensin đưa đến co mạch, giữ muối và nước giúp hồi phục thể tích tuần hoàn.

–        Có sự phóng thích của hormon tiền yên và Glucagon, là những hormon đối kháng với insulin đưa đến tăng đường huyết, và một số thay đổi về tim mạch.

Cơ chế nào gây ra choáng?

Cơ chế nào gây ra choáng?

  1. Sự phóng thích các hóa chất trung gian (Mediator)

–        Trong choáng nhiễm trùng, những thành phần của vi sinh vật (như nội độc tố của vi khuẩn Gram âm) phóng thích Cytokin (Tumour Necrosis Factor, Interleukin – 1 và Interferon – gamma) từ thực bào và bạch cầu, những chất trung gian này hoạt hoá hệ thống bổ thể và gây phóng thích những hoá chất trung gian vận mạch (như Prostacyclin, Endothelin – 1 và Nitric oxid) từ tế bào nội mạc mạch máu

=> Giãn mạch và tăng tính thấm thành mạch cũng gặp trong choáng phản vệ.

–        Đáp ứng viêm lan rộng tương tự có thể xảy ra với những nguyên nhân không phải nhiễm trùng như chấn thương, viêm tuỵ cấp và được xem như Hội chứng đáp ứng viêm toàn thân (System imflammatory reponse syndrom)

–        Đặc điểm của hội chứng đáp ứng viêm toàn thân là :

=> Sốt

=> Nhịp tim nhanh

=> Thở nhanh

=> Tăng số lượng bạch cầu

  1. Những thay đổi vi tuần hoàn

–        Trong giai đoạn sớm của choáng nhiễm trùng có :

+ Giãn mạch

+ Tăng tính thấm thành mạch cùng với phù mô kẻ

+ Shunt động – tĩnh mạch

–        Giãn mạch và tăng tính thấm mao mạch cũng xãy ra trong choáng phản vệ.

–        Trong giai đoạn đầu của những dạng choáng khác và trong giai đoạn cuối của choáng nhiễm trùng và choáng phản vệ, có sự bắt giữ máu ở mao mạch, dịch được đẩy vào khoang ngoại gây phù mô kẻ, cô đặc máu và tăng độ nhớt huyết tương.

–        Trong tất cả các dạng choáng có sự hoạt hoá con đường đông máu, cùng với sự xuất hiện của đông máu nội mạch lan toả ( DIC : Disseminated Intravascular Coagulation )

–        Đáp ứng viêm lan toả và những thay đổi vi tuần hoàn đưa đến suy cơ quan tiến triển : Hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan ( Multi Organ Dysfunction Syndrom : MOF )

–        Phổi thường bị tổn thương đầu tiên với sự xuất hiện của hội chứng nguy kịch  hô hấp cấp ( Acute Respiratory Distress Syndrom: ARDS )

–        Hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan có tỉ lệ tử vong cao và điều trị là nâng đỡ.

Nguồn tapchisuckhoe.edu.vn