Cơ chế thần kinh của cảm giác đau là gì?

Theo Hiệp hội Quốc tế về đau (IASP), đau là một kinh nghiệm khó chịu về cảm giác và cảm xúc, liên kết với một tổn thương mô thực thể hoặc tiềm tàng.

Cơ chế thần kinh của cảm giác đau là gì?

Cơ chế thần kinh của cảm giác đau là gì?

Dưới đây là thông tin về cơ chế thần kinh của cảm giác đau mà bạn cần biết với sự tư vấn của các chuyên gia của Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur.

Định nghĩa ‘đau’

Theo Hiệp hội Quốc tế về đau (IASP), đau là một kinh nghiệm khó chịu về cảm giác và cảm xúc, liên kết với một tổn thương mô thực thể hoặc tiềm tàng.  Đau là kết quả tồng hợp của nhiều yếu tố : sinh học ( tổn thương mô), tâm lý ( lo âu, sợ hãi, trầm cảm), xã hội.

Sinh lý dẫn truyền cảm giác đau

  1. Đường dẫn truyền cảm giác đau:

Các đầu tận cùng thần kinh ở mô da, cơ, khớp, nội tạng, còn gọi là cảm thụ quan (nociceptor), tiếp nhận các thông tin về kích thích đau ( bao gồm nhiệt, cơ học, hoá chất, các yếu tố gây viêm như serotonin, bradykinin, histamin).

Các thông tin về cảm giác đau được dẫn truyền tiếp theo trong sợi trục hướng tâm sơ cấp bao gồm các loại sợi thần kinh Aβ, AD , C và sợi giao cảm, truyền đến sừng sau tuỷ sống. Đặc điểm các loại sợi được trình bày trong bảng sau:

        Đặc điểm           Aβ        ADC
Đường kínhLớnTrung bìnhNhỏ
Bao myelin++++­-
Kích thích chuyên biệtXúc giácXúc giác mạnhXúc giác mạnh, nhiệt,

Hoá học

Cảm giác tạo raXúc giácĐau ngắnĐau dài

Sinh lý dẫn truyền cảm giác đau

Sinh lý dẫn truyền cảm giác đau

Tại sừng sau tuỷ sống, các sợi thần kinh hoặc:

  • các sợi kích thước trung bình AD và nhỏ C synapse với neurons ở sừng sau tuỷ sống , sau đó bắt chéo qua sừng trước tuỷ sống và đi lên đồi thị, võ não theo bó tuỷ hạ đồi trước bên (anterilateral spinothalamic tracts), đảm nhận cảm giác sờ, đau, nhiệt. Nếu các cảm thụ quan ở da, cơ, xương, khớp rất nhạy với các kíck thích nhiệt, cơ học, hoá học, thì các cảm thụ quan ở nội tạng không đáp ứng với các kích thích này, ngoại trừ khi có tình trạng viêm, dưới ãnh hưởng của các chất bradykinin, prostaglandin, leukotrien. Khi đó các thông tin về cảm giác đau sẽ dẫn truyền tới hạch ở sừng sau tuỷ sống, và bắt chéo qua sừng trước tuỷ sống , đi lên đồi thị, võ não theo bó tuỷ hạ đồi trước bên.
  • các sợi kích thước lớn Aβ tới nhân gracile và cuneate ở tuỷ sống, bắt chéo qua đường giữa và đi lên theo bó sợi trong (medial lemniscus) tới đồi thị, võ não, đảm nhận cảm giác áp suất,  rung động, định vi, định dạng (cảm giác sâu).

Bác sĩ tư vấn: Tại vùng đầu mặt, tiếp nhận cảm giác do dây thần kinh sọ sinh 3 (cranial nerve  trigeminal) đảm nhận. Các thông tin về cảm giác đau được dẫn truyền xuống nhân thần kinh tại tuỷ sống, sau đó bắt chéo qua đường giữa và đi lên đồi thị và võ não. Bó sợi sinh 3 (trigeminal lemniscus) nằm bên trong bó tuỷ hạ đồi trước bên là con đường truyền của tín hiệu thần kinh này. Con đường này đôi khi bị ảnh hưởng và gây ra dị cảm (tăng hoặc giảm cảm giác đau).

  1. Cơ chế kiểm soát đau:
  • Tại tuỷ: chất P ( gồm 11 acid amine) được tổng hợp tại hạch sống khi có kích thích ở cảm thụ quan có vai trò tăng xung động dẫn truyền thần kinh, bị ức chế bởi endorphins.
  • Tại não: từ não có những đường dẫn truyền xuống ức chế xung động cảm giác đau. Như đường dẫn truyền từ vùng trán và hạ đồi tới tế bào ở chất xám của não giữa (the periaqueductal gray matter of the midbrain), sau đó dẫn truyền tiếp tới chất trắng sau bên của tuỷ sống, và tận cùng tại neurons ở sừng sau tuỷ sống. Bên cạnh đó, còn có các đường ức chế xuất phát từ một số nhân thần kinh ở thân não. Các đường ức chế này có chất dẫn truyền thần kinh bao gồm endorphin, serotonin, norepinephrine.

Nguồn tapchisuckhoe.edu.vn