Cùng tìm hiểu về kỹ thuật đo thể tích khối hồng cầu

Lấy máu cho vào những ống nghiệm có kích thước đã xác định cụ thể từ trước đã có chất chống đông. Ly tâm với tốc độ và thời gian nhất định, từ đó xác định tỷ lệ phần trăm khối hồng cầu trong máu toàn phần.

Cùng tìm hiểu về kỹ thuật đo thể tích khối hồng cầu

Bài viết dưới đây đề cập kỹ thuật đo thể tích khối hồng cầu theo phương pháp vi lượng.

Chuẩn bị cho kỹ thuật đo thể tích khối hồng cầu

Bác sĩ tư vấn: Kỹ thuật đo thể tích khối hồng cầu cần bộ dụng cụ khá đơn giản bao gồm máy ly tâm vi lượng kèm theo thước đo, ống đo vi lượng có tráng heparin để chống đông, chất gắn thường dùng loại sáp mềm và bộ dụng cụ sát trùng chích máu.

Các bước tiến hành đo thể tích khối hồng cầu

Bước đầu tiên là thao tác sát trùng, chích máu, lưu ý cần bỏ giọt máu đầu vì giọt này thường bị loãng dễ làm sai kết quả. Sau đó đặt một đầu ống đo vi lượng vào trong giọt máu để máu tự chảy vào đến khoảng 3/4 ống tránh không cho máu vào đầy ống thì lúc đó có thể dừng lại và gắn đầu ống bằng sáp mềm. Đặt những ống đo vi lượng vào các rãnh của mâm ly tâm sao cho mỗi số của ống ứng với số của mẫu máu, cần lưu ý đầu gắn sáp phải để ở phía ngoài của mâm để đề phòng trường hợp khi quay ly tâm máu có thể bị văng ra. Chúng ta tiến hành ly tâm cài đặt chạy máy với tốc độ 10.000 vòng/phút trong thời gian 5 phút. Cuối cùng đọc kết quả thể tích khối hồng cầu bằng thước đo chuyên kèm theo máy.

Các bước tiến hành đo thể tích khối hồng cầu

Các bước tiến hành đo thể tích khối hồng cầu

Kết quả bình thường thể tích khối hồng cầu ở  nam giới là 47 ± 5 % và nữ giới là 42 ± 5 %. Thông thường thì thể tích khối hồng cầu của một người có mối liên quan khá chặt chẽ với số lượng hồng cầu và với lượng huyết sắc tố của người đó về kết quả. Cụ thể mối tương quan giữa số lượng hồng cầu và thể tích khối hồng cầu được giải thích là nếu gọi C là số lượng hồng cầu tính bằng triệu trong 1 mm3 máu thì thể tích khối hồng cầu tính theo đơn vị % sẽ từ (C x 10) – 4  đến  (C x 10) – 2. Ví dụ nếu có  C giá trị bằng 4  thì thể tích khối hồng cầu sẽ tính ra là (4 x 10) – 4  đến  (4 x 10) – 2, tức là 36 – 38%. Bên cạnh đó tương quan giữa lượng huyết sắc tố và thể tích khối hồng cầu là bình thường thể tích khối hồng cầu gấp 3 lần lượng huyết sắc tố tính bằng g/100 ml máu. Ví dụ cụ thể như nếu một người có lượng huyết sắc tố bằng 13 g/100 ml thì thể tích khối hồng cầu của người đó có giá trị bằng 13 x 3 là 39 %.

Nguồn tapchisuckhoe.edu.vn