Mẹ mắc bệnh gan trong thai kỳ cần làm gì?

Chứng ứ mật tại gan là một trong những rối loạn về gan phổ biến nhất ở phụ nữ mang thai. Khoảng 3 – 10% phụ nữ mang thai phát triển một số rối loạn liên quan đến gan.

Mẹ mắc bệnh gan trong thai kỳ cần làm gì?

Một số bệnh về gan khi mang thai như chứng ứ mật trong gan, gan nhiễm mỡ cấp tính, hội chứng HELLP và bệnh viêm gan virut cấp. Các bệnh về gan có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng trong thai kỳ, vì vậy hiểu biết về các loại bệnh lý gan thai kỳ và hướng xử trí là cần thiết cho bà mẹ mang thai.

Ứ mật tại gan trong thai kỳ

là một trong những rối loạn về gan phổ biến nhất ở phụ nữ mang thai. Tình trạng này có liên quan đến việc mang thai dẫn đến những bất thường trong dòng chảy của mật. Gan tạo ra mật để giúp tăng cường hấp thụ và tiêu hóa chất béo. Chứng ứ mật tại gan thai kỳ làm tích tụ axit mật trong máu của thai phụ, gây nguy hiểm hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi và làm cho thai phụ mắc các rối loạn như ngứa da nghiêm trọng và vàng da.

Việc điều trị chứng ứ mật tại gan thai kỳ cần dựa vào mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng. Bác sĩ có thể kê đơn thuốc để làm giảm ngứa da nghiêm trọng, đồng thời cũng giúp cải thiện chức năng gan và làm giảm nguy cơ tử vong. Sản phụ cũng cần siêu âm và các xét nghiệm khác có thể được chỉ định để theo dõi chặt chẽ nhịp tim và tình trạng của em bé.

Gan nhiễm mỡ cấp tính trong thai kỳ

Là một trong những rối loạn gan thường gặp trong ba tháng cuối của thai kỳ. Gan nhiễm mỡ cấp tính trong thai kỳ có thể dẫn đến suy gan, gây ra rối loạn tâm thần và hôn mê, nếu không phát hiện sớm, bào thai và mẹ có thể tử vong. Các dấu hiệu thường gặp là buồn nôn, mệt mỏi, đau bụng và nôn mửa và vàng da. Gan nhiễm mỡ cấp tính trong thai kỳ cần được điều trị ngay, vì chậm trễ có thể dẫn đến các biến chứng đe dọa tính mạng. Bệnh nhân cần được nhập viện và liên tục theo dõi tình trạng của thai nhi và xử trí chuyên khoa.

Viêm gan do virut cấp tính

Bác sĩ tư vấn: Có ba loại viêm gan do virut: viêm gan A, B, và C. Phụ nữ mang thai mắc bệnh này sẽ gặp một số rối loạn về gan. Đặc biệt viêm gan B có thể ảnh hưởng đến bào thai. Người bệnh có biểu hiện đau tức ở vùng bụng, mệt mỏi, vàng da và sốt. Cấc xác định chủng virut gây viêm gan và từ đó xác định cách điều trị phù hợp.

Đối với viêm gan A

Khi thai phụ mắc viêm gan A cần phải chú ý tới việc uống đủ nước và dinh dưỡng. Globulin miễn dịch có thể được kê cho phụ nữ mang thai mắc viêm gan A.

Đối với viêm gan B

Nếu thai phụ có HBsAg dương tính, em bé nên được điều trị dự phòng globulin miễn dịch ngay sau khi sinh. Trẻ sinh ra cũng nên được chủng ngừa vắc-xin viêm gan B trong 1 tuần, 1 tháng và 6 tháng tuổi. Điều này giúp làm giảm nguy cơ phát triển bệnh viêm gan B cho trẻ sơ sinh.

Đối với viêm gan C

Không có phương pháp điều trị đặc hiệu nào ngăn chặn việc truyền virut viêm gan C từ mẹ cho trẻ sơ sinh. Interferon là một lựa chọn, nhưng không thể dùng thuốc trong thai kỳ vì những tác dụng nguy hiểm đối với bào thai.

Hội chứng HELLP

là một rối loạn nghiêm trọng về gan trong thời kỳ mang thai. Sản phụ mắc hội chứng này thường bị thiếu máu, tiểu cầu thấp và các men gan tăng cao. Hội chứng này có nhiều khả năng phát triển trong ba tháng cuối thai kỳ và cũng có thể phát triển sau khi đẻ. Người mắc hội chứng này có thể dẫn đến một số biến chứng và dẫn đến tổn thương gan cũng như suy thận, rối loạn chảy máu, đột quỵ thậm chí tử vong. Sản phụ có thể chỉ định chuyển dạ sớm, vì việc sinh con là cách điều trị duy nhất ở đây.

Nguồn tapchisuckhoe.edu.vn