Tác dụng của hoàng cầm

Hoàng cầm là dược liệu có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng đã được sử dụng ở Việt Nam từ rất lâu, dịch chiết từ hoàng cầm có tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm, giảm ho, lợi tiểu…

Tác dụng của

Tác dụng của hoàng cầm

Chuyên gia đến từ Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur cung cấp thông tin về tác dụng của hoàng cầm đối với sức khỏe con người.

Tên gọi

Tên khoa học: Radix Scutellariae. Dược liệu là rễ cây hoàng cầm – Stecullaria baicalensis Georgi, họ Hoa môi- Lamiaceae.

Tên Việt Nam: hủ trường, không trường, túc cầm, hoàng văn, kinh cầm, khổ đốc bưu, điều cầm, khô cầm, bắc cầm, đông cầm, hoàng kim trà, lạn tâm hoàng…

Đặc điểm thực vật:

Cây thuộc thảo, sống nhiều năm, thân có 4 cạnh, lá mọc đối, dài 1,5-4cm, rộng 3-8mm, phiến lá hình mác hẹp, gần như không cuống, mép lá nguyên và có lông. Hoa mọc hướng về một phía ở ngọn. Cứ ở mỗi nách lá có một hoa. Hoa hình môi, màu xanh lơ. Cây đã được trồng thí nghiệm ở Sapa, chưa phát triển. Vị thuốc còn phải nhập.

Thu hái: rễ, thu hái vào mùa xuân hoặc mùa thu, đào về bỏ rễ con, bỏ thân, lá, phơi gần khô thì đập bỏ lớp vỏ ngoài rồi lại phơi khô.

Đặc điểm dược liệu:

Dược liệu hình chuỳ, trên to dưới nhỏ, có vết tích của rễ con, có thớ vặn, dài 8-20cm, đường kính 1-3cm, mặt ngoài màu vàng thẫm, chất dòn dễ bẻ, mặt bẻ màu vàng, giữa có lõi màu nâu hoặc những vụn mục màu nâu đen.

Thành phần hoá học:

Từ rễ hoàng cầm có nhiều hợp chất flavonoid đã được phân lập và xác định cấu trúc. Các chất quan trọng là baicalin, baicalein, scutellarein, scutellarin, wogonin.

Ngoài thành phần flavonoid trong rễ hoàng cầm còn có tanin thuộc nhóm pyrocatechic (2-5%), nhựa.

Thân và lá cũng có flavonoid.

Tác dụng và công dụng:

Bác sĩ tư vấn: Theo nghiên cứu y học hiện đại baicalein trong hoàng cầm có tác dụng giãn phế quản đối với tiểu phế quản trên lợn bị gây dị ứng suyễn, chất nàycó tác dụng ức chế phù co thắtvà giảm tính thẩm mao mạch ở chuột. Hoàng cầm có tác dụng kháng khuẩn, ức chế đối với nhiều khuẩn bệnh như tụ cầu vàng, trực khuẩn bạch hầu, phế cầu khuẩn, não mô viêm Neisseria, trực khuẩn lao. Trong khi thuốc có hiệu quả tốt đối với chuột thì lại không có tác dụng đối với lợn Hà Lan. Rễ Hoàng cầm có tác dụng hạ nhiệt. Nước sắc, cồn chiết, dịch truyền, kể cả nước và cồn trích Hoàng cầm đều có tác dụng hạ áp đối với chó, thỏ và mèo và có tác dụng lợi tiểu đối với chó và người bình thường. Nước sắc bao gồm 3 vị Hoàng cầm, Hoàng liên và Đại hoàng có tác dụng làm hạ lipid đối với ngườithực hiện chế độ ăn kiêng Cholesterol trong 7 tuần hoặc nơi người đã được trị bằng Thyroid. Nước sắc hoặc cồn chiết xuất Hoàng cầm làm tăng lượng mật ở chó và thỏ, bilirubin tăng sau 1-6 giờ và giảm trong khoảng 24-48 giờ so với nhóm đối chứng. Nước sắc và cồn chiết xuất Hoàng cầm có tác dụng ức chế nhu động ruột.

Theo y học cổ truyền  hoàng cầm có vị đắng, tính  bình hoặc tính hàn quy vào phế, đại trường, bàng quang, đởm có tác dụng tiết lợi, lợi tiểu đường, an tử huyết bế, thả thực hỏa, trừ thấp nhiệt, chỉ huyết, an thai, thượng hành tả phế hỏa, thanh thấp nhiệt để chữa cảm sốt, ho do phế nhiệt, lỵ, ỉa chảy, mắt đỏ sưng đau, chảy máu cam, mụn nhọt, thai động không yên. Ngoài ra còn chữa viêm dạ dày và ruột.

Dùng dưới hình thức thuốc sắc với liều 12g một ngày, người lớn có thể dùng 30-50g một ngày.

Baicalein cũng được chiết xuất và chuyển thành dạng ester phosphat (để tăng độ hoà tan), dùng để chữa các bệnh dị ứng.

Hoàng cầm cũng được dùng dưới dạng cồn thuốc (Tinctura Scutellariae) để chữa bệnh cao huyết áp, nhức đầu, mất ngủ. Uống lâu không thấy có tác dụng phụ.

Nguồn tapchisuckhoe.edu.vn