Tác dụng của hòe hoa đối với con người

Rutin có trong hòe hoa có tác dụng tăng độ bền và giảm tính thấm của mao mạch, giảm trương lực cơ trơn, hay được dùng trong các bệnh huyết áp, xơ vữa động mạch.

Tác dụng của hòe hoa đối với con người

Tên gọi

Tên khoa học: Flos Scophorae. Dược liệu là nụ cây hoa hoè – Scophora japonica L., họ Đậu – Fabaceae.

Tên Việt Nam: hòe hoa, hòe nhụy, thái dụng, hòe mễ, hòa trầu mễ, hòe hoa thán, hòe mễ than, hòe nhĩ, hòe giáp…

Đặc điểm thực vật

Cây nhỡ, cao 5-7m, có khi hơn. Thân cành luôn có màu lục, nhẵn. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, gồm 13 – 17 lá chét hình trứng đỉnh nhọn, nguyên dài 3cm, rộng 1,5-2,5cm, mặt dưới hơi có lông. Hoa nhỏ, màu vàng lục nhạt, mọc thành chùm ở đầu cành. Quả đậu không mở, nhẵn, thắt lại giữa các hạt, đầu có mũi nhọn dài. Hạt hơi dẹt, màu nâu vàng bóng

Đặc điểm phân bố

Ở nước ta hoè được trồng ở một số tỉnh, nhiều nhất ở Thái Bình. Hoa hoè và rutin không chỉ thoả mãn nhu cầu trong nước mà còn được xuất khẩu với khối lượng lớn. Các nước  như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật bản cũng có trồng cây Hòe làm thuốc. Ở một số nước Châu Âu cây Hoè chỉ trồng làm cảnh.

Thành phần hóa học

Bác sĩ tư vấn: Hoa hoè có nhiều thành phần chủ yếu là rutin (rutosid). Hàm lượng trong nụ hoa có thể đạt đến 28%. Dược điển Việt nam quy định ít nhất là 20%. Rutin lần đầu tiên được phân lập từ cây cửu lý hương – Ruta graveolens L. vào năm 1842 nên có tên là rutin. Rutin còn gặp trong nhiều loài thực vật khác. Phần aglycon của rutin là quercetin (=quercetol) thuộc nhóm flavonol; phần đường là rutinose (=6-O-a-L-rhamnopyranosyl-b-D-glucopyranose). Chiết xuất rutin từ hoa hoè rất dễ, chỉ cần chiết bằng nước nóng rồi để lạnh là có rutin tách ra, hoặc chiết bằng nước kiềm carbonat rồi acid hoá. Tinh chế bằng cách hoà tan lại trong nước nóng hoặc cồn nóng.

Ngoài rutin trong hoa hoè còn có betulin là dẫn chất triterpenoid nhóm lupan, sophoradiol là dẫn chất của nhóm olean.

Lá chứa 6,6% flavonoid toàn phần trong đó có 4,7 % rutin.

Vỏ quả chứa 10,5% flavonoid toàn phần trong đó có 4,3% là rutin, sophoricosid, sophorabiosid và một số flavonoid khác.

Các bộ phận khác như gỗ, thân, hạt đều có những flavonoid khác nhau đã được phân lập và đã biết cấu trúc hoá học nhưng không có ý nghĩa thực tế

Tác dụng và công dụng:

Rutin có hoạt tính vitamin P, có tác dụng làm bền và làm giảm tính thấm của mao mạch, làm tăng sự bền vững của hồng cầu, rutin làm hạ thấp trương lực cơ nhẵn, chống co thắt.

Rutin được dùng chủ yếu để đề phòng những biến cố của bệnh xơ vữa động mạch, điều trị  các trường hợp suy yếu tĩnh mạch, các trường hợp xuất huyết như chảy máu cam, ho ra máu, tử cung xuất huyết, phân có máu. Rutin còn là thuốc chữa trĩ, chống dị ứng, thấp khớp. Ngoài ra còn dùng trong các trường hợp tổn thương ngoài da do bức xạ, làm cho vết thương chóng lành sẹo. Rutin rất độc, tuy nhiên không được dùng trong trường hợp nghẽn mạch và máu có độ đông cao.

Dùng dưới dạng viên 2,02g. Có thể phối hợp với các thuốc khác như vitamin C (ta có sản xuất viên Rutin-C) cholin, khellin, các alcaloid của dừa cạn, papaverin…Người ta còn sản xuất loại rutin hòa tan trong nước (morpholylethyl rutosid, rutosid natripropylsulfonat). Nhu cầu về rutin trên thế giới rất lớn chỉ riêng nước Pháp hàng năm sản xuất hơn 10 tấn rutin mà vẫn chưa đáp ứng nhu cầu.

Nguồn tapchisuckhoe.edu.vn