Tác dụng của nhân sâm là gì?

Nhân sâm từ lâu đã được biết đến là một vị thuốc quý, có tác dụng bổ năm tạng tâm, can, tỳ, phế, thận, yên tinh thần, định thần, trừ tà khí, sáng mắt, bổ khí, điều trị chứng đau ruột, dạ dày…

Tác dụng của nhân sâm là gì?

Tác dụng của nhân sâm là gì?

Tên gọi

Tên khoa học: Radix Ginseng. Rễ củ chế biến của cây nhân sâm – Panax ginseng C.A.Mey., họ Nhân sâm – Araliaceae.

Tên Việt Nam: nhân sâm, dã nhân sâm, sâm cao ly, sâm triều tiên…

Đặc điểm thực vật

Cây nhỏ, cao 30-50cm có thể sống trên 50 năm. Cây mang ở ngọn một vòng 4-5 lá. Cuống lá dài. Lá kép chân vịt. Lá lúc đầu có 3 lá chét về sau có 5 lá chét; hai lá chét ngoài nhỏ hơn các lá chét ở giữa. Mép lá có răng cưa. Cây trồng thì ra ho  a vào năm thứ 3 vào mùa hạ; từ điểm giữa của vòng lá nhô lên một trục cao chừng 10cm mang hoa màu trắng nhạt nhóm họp thành tán đơn. Hoa đều 5 cánh, lá đài 5 răng, 5 nhị. Quả hạch màu đỏ gần hình cầu. Rễ củ thường to bằng ngón tay phân thành nhiều nhánh nom như hình người nên có tên là nhân sâm. Đôi khi có những củ sâm có kích thước rất lớn nặng đến 300-400g.

Bác sĩ tư vấn: Nhân sâm tự nhiên có ở các vùng núi Viễn đông Liên Bang Nga, cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên và Trung Quốc. Đã được trồng thử nghiệm ở Việt Nam nhưng chưa thành công.  Người ta thường trồng nhân sâm bằng hạt tươi, thời gian từ tháng 10 đến tháng 11 hằng năm, sau 6 năm có thể thu hoạch được.

Chế biến:

Trong y học dân tộc cổ truyền, người ta phân biệt hai loại chính: hồng sâm và bạch sâm.

Hồng sâm:  chọn củ mẫm to, nặng trên 37g, rửa sạch đất cát, cho vào nồi chưng chín trong khoảng 2 giờ, sau đó sấy hoặc phơi khô. Sau khi chế biến thì tinh bột có trong rễ bị chín và khi khô thì thể chất trong suốt nửa như sừng, có màu hồng mùi thơm, vị ngọt hơi đắng. “Thân” sâm hình thoi hoặc gần như hình trụ, phần trên và phần dưới hơi thót lại. Phần “đầu” tức là cổ rễ, đôi khi nom rõ vết sẹo của thân. Rễ đôi khi phân nhánh nom như cánh tay, phần dưới có 2, 3 nhánh nom như chân. Củ càng to càng giá trị.

Bạch sâm (hoặc đường sâm): Những củ sâm không đủ tiêu chuẩn chế hồng sâm thì chế bạch sâm. Sau khi rửa sạch đất cát thì nhúng vào nước sôi vài phút, sau đó tẩm đường vài ngày rồi phơi hoặc sấy ở nhiệt độ không quá 60o. Dược liệu sau khi chế biến thì mặt ngoài màu trắng ngà, mềm, thường có tinh thể đường bám bên ngoài, mặt bẻ màu trắng ngà và xốp, mùi thơm, vị ngọt.

Thành phần hóa học:

 Thành phần chính là các saponin triterpenoid tretracyclic nhóm dammaran gọi chung là ginsenosid. Trong lá cũng có chứa saponin với aglycon là acid oleanolic.

Các thành phần khác: tinh dầu 0,05-0,25%, vit B1, B2, các phytosterol 0,029%, glycan.

Công dụng:

Nhân sâm được dùng từ lâu đời ở các nước Á đông và đã được đưa vào Dược điển một số nước. Cao nhân sâm là thành phẩm chính của biệt dược “Pharmaton” SA Lugano.

Dùng sâm trong  trường hợp suy nhược cơ thể sau khi ốm nặng, làm việc quá sức và mệt mỏi, liệt dương, lãnh dục, ăn không ngon, suy yếu đường tiêu hoá. Sâm có tác dụng chống lão hoá, chống stress, chữa xơ vữa động mạch, bệnh tiểu đường, lipid máu cao, gan nhiễm mỡ.

Dùng nhân sâm thì nâng cao khả năng lao động bằng trí óc, khả năng tập trung tư tưởng và tăng trí nhớ, tăng cường miễn dịch đặc hiệu của hệ thống đề kháng của cơ thể.

Cách dùng: dùng dưới dạng cồn thuốc, nước chưng cách thuỷ, thuốc bột dập viên. Ngày dùng 2-6g. Hiện nay, trên thị trường thông dụng là loại trà tan. Lá cũng sử dụng chứ không bỏ đi.

Nguồn tapchisuckhoe.edu.vn