Tác dụng của thiên môn là gì?

Thiên môn hay còn gọi là thiên môn đông có tác dụng điều trị ho, tiêu đờm, bồi bổ sức khỏe rất tốt, trước đây có nhiều ở các tỉnh miền núi Tây Bắc, tuy nhiên do rừng nguyên sinh bị tàn phá nên giờ hầu như nhập từ Trung Quốc.

Tác dụng của thiên môn là gì?

Tên gọi

Tên khoa học: Radix Asparagi cochinchinensis. Dược liệu là rễ củ phơi của cây thiên môn – Asparagus cochinchinensis (Lour.) Merr., họ Thiên môn – Asparagaceae.

Tên Việt Nam: điên hách, địa môn đông, duyên môn đông, quan tùng, vô bất dũ, cán thảo, tương mũ, mãn đông, điên lặc, thiệc cức, bà la thụ, thiên đông, thương cức, dây tóc tiên.

Đặc điểm thực vật:

Thiên môn là một loại cây leo, sống lâu năm. Dưới đất có rất nhiều rễ củ hình thoi mẫm. Thân mang nhiều cành 3 cạnh, đầu nhọn, biến dạng trông như lá, còn lá thì rất nhỏ trông như vẩy. Hoa nhỏ màu trắng mọc vào mùa hạ. Quả mọng màu đỏ khi chín. Cây thiên môn có ở nhiều nơi như Thanh Hóa, Quảng Ninh, Bắc Thái, Cao Bằng, Lạng Sơn… các nước khác như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản cũng có.

Thu hái chế biến:

Rễ củ thu hái vào mùa đông ở những cây mọc được 2 năm trở lên, thu hái vào tháng 10-12. Sau khi rửa sạch, cắt bỏ đầu và rễ con, đem đồ qua hơi nước. Lúc còn nóng rút bỏ lõi, thái mỏng rồi phơi hoặc sấy cho khô. Dược liệu có vị ngọt hơi đắng. Loại béo mập, cứng, màu hơi trong là loại tốt.

Thành phần hoá học:

Trong thiên môn đông có asparagin là một acid amin. Ngoài ra còn có chất nhầy, tinh bột: Sucrose, Ologosaccharide(Tomoda Masashi và cộng sự, Chem Pharm Bull 1974, 22 (10): 2306), 5-Methoxymethyl fùrural, beta-Sitosterol5, citrulline, asparagine, serine, threonine, proline, glycine, alanine, valine, methionine, leucine, isoleucine, phenylalanine, tyrosine, aspartic acid, glutamic acid, histidine, lysine 6,7.

Công dụng:

Bác sĩ tư vấn: Theo nghiên cứu của y học hiện đại nước sắc thiên môn có tác dụng kháng khuẩn, tác dụng ức chế liên cầu khuẩn A và B, phế cầu, tụ cầu, trực khuẩn bạch cầu, chống khối u ở tế bào bạch cầu chuột nhắt bị viêm hạch bạch huyết cấp. Ngoài ra nước sắc thiên môn có tác dụng giảm ho, lợi tiểu, thông tiểu.

Theo y học cổ truyền thiên môn có vị đắng, tính bình, vị ngọt, tính hàn, quy vào kinh phế, thận, có tác dụng định phế khí, dưỡng cơ bì, ích khí lực, lợi tiểu, trừ nhiệt khử nhiệt trúng phong, trấn tâm, nhuận ngũ tạng, ích bì phu, bổ ngũ lao… dùng trong các trường hợp hư lao, người suy nhược, gầy ốm, mắt mở, phế khí ho, suyxn, ghẻ nước, ho lao, lao phổi, ho ra máu, khát nước do bệnh ở thượng tiêu. Liều dùng 10-15g một ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc nấu thành cao.

Một số bài thuốc có chứa thiên môn

Tư âm, dưỡng huyết, ôn bổ hạ nguyên: Thiên môn, Sinh địa đều 80g cho vào bình bằng gỗ cây liễu, cho rượu vào rửa. Chưng chín rồi phơi chín lần cho thật khô, thêm  nhân sâm 40g, 9 quả táo tầu, bỏ hột, gĩa nát, trộn thuốc bột làm viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 30 viên, với rượu nóng, trước bữa ăn, ngày 3 lần.

Cơ thể đau nhức do hư lao: thiên môn tán thành bột ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa với rượu.

Phế nuy, ho, khạc nhiều đờm, trong tim nóng, miệng khô, khát nhiều: thiên môn để sống, gĩa vắt lấy nước cốt chừng 7 chén, rượu 7 chén, mạch nha 1 chén, tử uyển 160g  cho vào bình bằng đồng hoặc nồi bằng sành, nấu đặc thành cao hoặc làm thành viên, mỗi lần uống to bằng qủa táo, ngày 3 lần.

Am hư hỏa vượng, có đờm mà không dùng được thuốc táo: thiên môn 1 cân, rửa sạch với nước, bỏ lõi, lấy nguyên nhục khoảng 480g. cho vào cối đá gĩa nát, ngũ vị tử, rửa sơ qua, bỏ hột, chỉ lấy thịt 160g phơi khô rồi đem cả hai cùng nghiền nát, trộn với hồ làm thành viên to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 20 viên với nước trà nóng, ngày 3 lần.

Nguồn tapchisuckhoe.edu.vn