Dược sĩ tư vấn về chỉ định của glucocorticoid

Corticoid xuất hiện trong nhiều bài viết với nhiều lời cảnh báo về việc lạm dụng thuốc không đúng chỉ định và những tác dụng phụ của corticoid khi dùng trong thời gian kéo dài.

Dược sĩ tư vấn về chỉ định của glucocorticoid

Cùng tìm hiểu chỉ định thực sự của corticoid trong bài viết sau.

Hormone gluco-corticoid

Glucocorticoid là một hormone có nguồn gốc từ vùng bó và vùng lưới của vỏ tuyến thượng thận. Hai vùng này nằm bên trong hơn so với vùng cuộn, chế tiết sản phẩm chính là hormone điều hòa glucose (glucocorticoid – hydrocortison hay cortisol), điều hòa bởi ACTH tuyến yên. Ngoài ra, vùng này cũng đồng thời sản xuất ra một lượng hormone androgen.

Hormone điều hòa glucose hay corticoid điều hòa glucose, cortisol (hydrocortison) đều là tên của cùng một loại hormone. Corticoid xuất hiện trong nhiều bài viết với nhiều lời cảnh báo về việc lạm dụng thuốc không đúng chỉ định và những tác dụng phụ của corticoid khi dùng trong thời gian kéo dài. Cùng tìm hiểu chỉ định thực sự của corticoid trong bài viết sau.

Chỉ định bắt buộc

Bác sĩ tư vấn: Bổ xung hormone trong điều trị thay thế hormone.

1a. Suy thượng thận cấp tính.

– Bù thể tích tuần hoàn và muối: NaCl 0,9% ≥ 1lít (5% trọng lượng cơ thể trong   24giờ).

– Glucocorticoid liều cao: Hydrocortison 100 mg t/m. Sau đó 50 – 100 mg x 8h/ lần trong ngày đầu. Sau 24 đến 72 giờ thay bằng tiêm bắp hoặc uống 25 mg x  8h/ lần.

1b. Bệnh Addison (Suy thượng thận mạn tính)

– Liều dùng:  Hydrocortison 20 mg uống vào buổi sáng và 10 mg vào buổi trưa.

Chỉ định thông thường trong chống viêm và ức chế miễn dịch

2a. Viêm khớp, viêm khớp dạng thấp

– Sử dụng corticoid kéo dài trong nhiều năm. Cần lưu ý biến chứng khi sử dụng corticoid cho đối tượng này.

– Liều đầu tiên thường là 10 mg prednison (hoặc tương đương).

– Liều bonus khi quá đau: triamcinolon acetonid với liều khoảng 5- 20 mg tiêm ổ khớp, chú ý đảm bảo vô khuẩn khi tiêm.

Chỉ định thông thường trong chống viêm và ức chế miễn dịch

Chỉ định thông thường trong chống viêm và ức chế miễn dịch

2b. Bệnh thấp tim

– Chỉ dùng corticoid khi salicylat không có tác dụng

– Các trường hợp thấp tim nặng, chỉ định corticoid cho hiệu quả cải thiện triệu chứng nhanh, với liều prednison 40mg/ngày.

– Lưu ý, ngay khi ngừng corticoid, bệnh có thể trở lại. Luôn cần phối hợp salicylat trong những trường hợp này.

2c. Các bệnh thận

– Hội chứng thận hư và lupus ban đỏ: prednison 60 mg/ ngày (trẻ em 2mg/ kg) x 3- 4 tuần.

– Liều duy trì 3 ngày/ tuần, kéo dài tới hàng năm .

2d.  Bệnh collagenose (bệnh dây hồ)

– Nấm da cứng (sclerodermia): Thường corticoid không hiệu quả.

– Các bệnh khác như viêm nhiều cơ, viêm nút quanh mạch, viêm đau nhiều cơ do thấp: prednison 1mg/ kg/ ngày. Giảm dần.

– SLE (Lupus ban đỏ) dạng toàn thân bộc phát: sử dụng prednison liều 1 mg/ kg/ ngày. Sau đó nếu trong vòng 48h bệnh nhân không có đáp ứng thì tăng dần mỗi ngày 20 mg cho đến khi có đáp ứng. Liều duy trì sau đợt bộc phát là 5 mg/ tuần. Kết hợp cùng salicylat, azathioprin, cyclophosphamid.

2e. Các bệnh dị ứng

– Đối với dị ứng, thường bác sĩ sẽ ưu tiên chỉ định các nhóm kháng histamin, adrenalin nhằm điều trị trong các biểu hiện cấp tính.

– Corticoid có thể được chỉ định trong một số trường hợp nhưng có tác dụng chậm.

2g. Hen phế quản

– Dùng corticoid dạng khí dung, cùng với các thuốc giãn phế quản (thuốc cường β2 adrenergic, theophylin…).

– Đề phòng tai biến nấm candida đường mũi họng

2h. Bệnh ngoài da

– Ngoài tác dụng chung, khi bôi ngoài, corticoid ức chế tại chỗ sự phân bào, vì vậy có tác dụng tốt trong điều trị bệnh vẩy nến và các bệnh da có tăng sinh tế bào.

– Trên da bình thường, khoảng 1% liều hydrocortison được hấp thu. Nếu băng ép, có thể làm tăng hấp thu đến 10 lần. Sự hấp thu tuỳ thuộc từng vùng da bôi thuốc, tăng cao ở vùng da viêm, nhất là vùng tróc vẩy.

* Một số chế phẩm dạng bôi ngoài da:

  • Flucinolon acetonid (Synalar) 0,01%- 0,025%- 0,2%
  • Triamcinolon acetonid (Aristocor, Kenalog) 0,025% – 0,1%
  • Betametason dipropionat (Diproson) 0,05% – 0,1% (tác dụng mạnh)

Các chế phẩm trên thường được bào chế dưới các dạng khác nhau như thuốc mỡ (thích hợp với da khô), kem (da mềm, tổn thương có dịch rỉ, các hốc của cơ thể như âm đạo…), dạng gel (dùng cho vùng da đầu, nách, bẹn).

Nguồn tapchisuckhoe.edu.vn