Dược liệu cỏ sữa lá nhỏ – vị thuốc chữa bệnh lỵ

Cây cỏ sữa là một trong những vị thuốc quý có tác dụng điều trị bệnh đường ruột. Bên cạnh đó, loại cỏ dại này còn được dùng với mục đích tăng cường khả năng tiết sữa ở phụ nữ sau khi sinh.

Dược liệu cỏ sữa lá nhỏ - vị thuốc chữa bệnh lỵ

Dược liệu cỏ sữa lá nhỏ – vị thuốc chữa bệnh lỵ

1. Một số cách gọi tên của cỏ sữa lá nhỏ

Tên Tiếng Việt Cỏ sữa lá nhỏ Vú sữa đất, Cẩm địa, Thiên căn thảo, Nhả nực nọi (Thái), Nhả nậm mòn, Chạ cam (Tày), Cỏ sữa nhỏ lá

Tên khoa học Euphorbìa thymifolia Burm (E.prostrata Grah).

Thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae.

Ta dùng toàn cây phơi khô của cây cỏ sữa nhỏ lá.

2. Đặc điểm thực vật của cây cỏ sữa lá nhỏ

Cỏ sữa là một loại cỏ nhỏ, gầy, mọc là là trên mặt đất, thân và cành tím đỏ. Lá mọc đối, hình bẩu dục hay thon dài, dài nhất 7mm, rộng chừng 4mm mép lá hơi khía tai bèo. Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành xim đơn mang ít hoa. Quả nang đường kính 1,5mm, có lông. Hạt nhẵn, dài 0,7mm có 4 góc. Toàn thân bấm đều chảy một chất nhựa mủ.

3. Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang khắp nơi ở Việt nam. Ưa các đất có sỏi, đá thường thấy ở các kẽ các gạch, sân xi măng dọc đường xe lửa có dải những hòn đá vôi xanh.

Hái vào mùa hè. Hái về rửa sạch, sao vàng phơi khô mà dùng. Có mọc ở Ân Độ, Inđônêxia, Trung Quốc, Philipin.

4. Thành phần hóa học

Toàn cây có ancaloìt (theo c. A. 1966, 64, 1013a), thân và lá có cosmosiin chừng 0,037%, rễ có taraxerol, và tirucallol và myrixylalcohol (C. A. 1967, 66, 73239g).

5. Tác dụng dược lý

Theo Còpacdiuxki 1947 (Buil. Soc. Chìmiebio10gique số 29: 924-926) chất nhựa mủ của cò sữa có tính gây xót đối với niêm mạc và độc với cá và chuột.

Dung dịch cỏ sữa 1/20 đến 1/40 có tác dụng ức chế sự sinh sản của các loại vi trùng lỵ Sonner, Flexne và Shìga.

6. Công dụng và liều dùng

Cỏ sữa lá nhỏ là vị thuốc chữa lỵ rất phổ cập trong nhân dân. Hay dùng nhất đối với trẻ em.

Liều dùng:

  • Trẻ em 15g đến 20g (có thể dùng tới 50g)/ ngày dạng thuốc sắc.
  • Người lớn có thể dùng tới 100-150g.

Mặc dù có những tài liệu nghiên cứu dược lý kể trên, thực tế lâm sàng không thấy có triệu chứng độc trong và sau khi uống thuốc. Thời gian điều trị thường từ 5-7 ngày là khỏi. Dùng riêng hoặc phối hợp với vị rau sam.

Theo Y sĩ Y học cổ truyền Cao đẳng Y Dược Hà Nội – Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur cho biết: Ngoài công dụng chữa lỵ ở Việt Nam, cầy cỏ sữa lá nhỏ còn được dùng ở nước khác làm thuốc diệt sâu bọ và duốc cá (Ân Độ), giã đắp chữa bệnh ngoài da và vết thương (Malaixia, A Rập).

Ngoài ra còn có Cây cỏ sữa lớn lá là một cây sống hằng năm hoặc sống dai, thân mọc thẳng có thể cao tới 30-40cm, màu đỏ nhạt, phủ lông màu vàng nhạt. Có lá màu xanh lẫn màu đỏ, mọc dài, hình mác dài 2-3cm, rộng 5-15mm, mép có rãng cưa nhỏ, cuống ngắn, hoa nhỏ, màu trắng đố nhạt, mọc thành xim đơn, hình cầu ở kẽ lá. Quả lúc đầu đỏ, sau xanh và nâu. Hạt màu đỏ nhạt, nhỏ có mặt xù xì.

Mọc hoang khắp nơi ở Việt Nam. Cũng ưa những đất sỏi, đá như cỏ sữa nhỏ lá.

Hoạt chất của sữa lớn lá với liều nhỏ có độc đối với súc vật. Con vật chết do ngừng hô hấp, tim lúc đầu đập nhanh sau chậm lại. Tại chỗ không có tác dụng trên da cũng như niêm mạc nhưng gây xót với niêm mạc dạ dày. Liều độc đối với súc vật 1g cây khô /1 kg thể trọng.

Tại các nước khác, cỏ sữa lớn lá được dùng chữa đau mắt, loét giác mạc (Malaixia), bệnh ho, hen…